Thư viện thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
Giao diện:     
 | 
Thứ Tư, 27/01/2021 - 13:39
 
 
 
 
Giới thiệu về Điều
Nhận diện thương hiệu sản phẩm
Mô hình sản xuất và thương mại
Hồ sơ nhà sản xuất
Văn hóa thổ nhưỡng
Quy trình về chất lượng & an toàn thực phẩm
Tiêu chuẩn chất lượng quốc gia_ VietGap
Tiêu chuẩn Global Gap của thị trường xuất khẩu
Quy trình chăm sóc sản xuất
Công nghệ trước thu hoạch
Công nghệ sau thu hoạch
Các thông số cụ thể
Hỗ trợ dịch vụ tư vấn
Chi phí dự án và chứng nhận
Chính sách hỗ trợ

Điều hay còn gọi là  đào lộn hột (danh pháp khoa học: Anacardium occidentale L.; đồng nghĩa: Anacardium curatellifolium A.St.-Hil.) là một loại cây công nghiệp dài ngày thuộc họ Đào lộn hột. Cây này có nguồn gốc từ đông bắc Brasil, nơi nó được gọi bằng tiếng Bồ Đào Nha là  Caju (nghĩa là "quả") hay Cajueiro ("cây"). Ngày nay nó được trồng khắp các khu vực khí hậu nhiệt đới để lấy nhân hạt chế biến làm thực phẩm.

Cây điều (Anacardium occideltale có nguồn gốc từ Brazil vùng nhiệt đới ven biển nam Châu Mỹ, được dẫn nhập vào Việt Nam khoảng 200 năm nay, hiện nay trên thế giới đã có 50 quốc gia phát triển cây điều. Ðiều được xếp vào cây công nghiệp dài ngày, cho sản phẩm nhiều năm, nhân điều cung cấp nguồn thực phẩm cao cấp giàu năng lượng cho nhu cầu của con người. Theo số liệu của cục thống kê tính đến năm 2006 nước ta có trên 360.000 hecta điều. Cây điều rất dễ trồng nhưng cần có sự đầu tư thỏa đáng để mang lại nguồn lợi mong muốn.

Miêu tả:

Cây cao từ khoảng 3m đến 9m. Lá mọc so le, cuống ngắn. Hoa nhỏ, màu trắng có mùi thơm dịu. Quả khô, không tự mở, hình thận, dài 2-3cm, vỏ ngoài cứng, mặt hõm vào, cuống quả phình to thành hình trái lê hay đào, màu đỏ, vàng hay trắng. Do vậy người ta thường có cảm tưởng phần cuống quả phình ra là quả, còn quả thật đính vào là hạt, do dó mà có tên đào lộn hột (tức đào có hột nằm ngoài quả). Hạt hình thận, có chứa dầu béo.

Sử dụng: 

  • Quả giả (cuống quả) rất giàu vitamin C, có thể ăn tươi, hoặc ép lấy dịch cho lên men làm rượu nhẹ, nước giải khát lên men. Tuy nhiên không nên ăn nhiều trái tươi vì gây tưa lưỡi.

Rượu chế biến từ quả giả này có thể dùng xoa bóp khi đau nhức? súc miệng chữa viêm họng, chống nôn mửa.

  • Nhân là sản phẩm chính của cây Điều do có giá trị cao, sử dụng đa dạng, sau khi loại hết vỏ, được rang hoặc dùng tươi hoặc dùng trong chế biến bánh, kẹo .

  • Bôm đào lộn hột dung chữa chai, loét, nẻ chân.

  • Dầu nhân dùng để chế thuốc.

Ở Việt Nam:

Việt Nam là nước có sản lượng hạt điều xuất khẩu lớn nhất thế giới.[1] Cây điều được trồng rất nhiều ở các tỉnh miền núi phía nam như Đắk Lắk, Đắk Nông và  Bình Phước...

 

 




Cây điều (Anacardium occideltale có nguồn gốc từ Brazil vùng nhiệt đới ven biển nam Châu Mỹ, được dẫn nhập vào Việt Nam khoảng 200 năm nay, hiện nay trên thế giới đã có 50 quốc gia phát triển cây điều. Ðiều được xếp vào cây công nghiệp dài ngày, cho sản phẩm nhiều năm, nhân điều cung cấp nguồn thực phẩm cao cấp giàu năng lượng cho nhu cầu của con người. Theo số liệu của cục thống kê tính đến năm 2006 nước ta có trên 360.000 hecta điều. Cây điều rất dễ trồng nhưng cần có sự đầu tư thỏa đáng để mang lại nguồn lợi mong muốn.

Ðể vườn điều có năng suất cao và chất lượng hạt tốt phục vụ cho xuất khẩu cần thực hiện: 

I. LỰA CHỌN CÂY GIỐNG VÀ GIEO ƯƠM : 

1. Tuyển chọn cây mẹ: 
* Chọn những cây 10 tuổi trở lên, đã có một số năm cho năng suất ồn định bình quân trên 10 kg hạt / cây/năm.
* Tán lá dày đặc, bình quân 5 nhánh trên một cành chủ.
* Có ít nhất 60% số nhánh ra hoa, thời gian ra hoa tập trung trong 30 – 60 ngày.
* Hoa lưỡng tính chiếm ít nhất 10% trên một chùm hoa.
* Số trái trên chùm bình quân ít nhất là 5 trái/chùm.
* Số hạt trong 1 kg đạt từ 120 - 150 hạt.
* Tỷ lệ nhân/hạt chiếm 25 - 30%.
* Sinh trưởng tốt không bị sâu bệnh phá hoại.
* Cây giống tốt cần đánh dấu và lập hồ sơ theo dõi, có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ để thu hoạch và cung cấp giống.

2. Chọn lựa hạt giống và gieo ươm: 
- Hạt giống thu từ những cây mẹ đã chọn, phơi trong 2-3 nắng, cất giữ nơi khô và kín để giữ cho hạt nẩy mầm tốt.
- Chọn hạt chắc \bằng cách thả vào nước muối 3 - 5% loại bỏ những hạt nổi.
- Ngâm hạt trong nước 48 giờ, thời gian ủ cần có rửa chua, sau đó có thể ươm trong túi bầu hoặc gieo thẳng vào các hố trồng ở ngoài hiện trường.
- Gieo hạt cho chiều cong úp xuống, cuốn hạt quay về phía trên, lấp đất vừa phủ hạt, chăm sóc, giữ ẩm trong giai đoạn cây con, cây gieo 30 - 45 ngày, có thể chuyển đi trồng ở ngoài hiện trường.

II. NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH: 

Có nhiều phương pháp trồng điều, nhưng để tạo ra những cây điều năng suất cao, ổn định, mang đầy đủ đặc tinh của cây mẹ, con đường duy nhất là phải áp dụng các phương pháp nhân giông vô tính. 

* Phương pháp tháp ghép (Grafting): 
Có nhiều cách ghép khác nhau, nhưng đơn giản và có sự thành công cao đó là phương pháp ghép trên thân gỗ. 
- Chuẩn bị gốc ghép: Cây con gieo ươm từ hạt trong túi bầu, túi có kích thước 15cm x 25cm có tỷ lệ phân bón thích hợp, sinh trưởng khỏe mạnh, 60 ngày tuổi trở lên. 
- Chuẩn bị cành ghép: Cành ghép được lấy từ những cây mẹ tốt đã chọn, không bị sâu bệnh phá hoại, cành có chiều dài từ 8 cm trở lên, có màu nâu nhạt, cắt lá chuẩn bị trước 1 tuần, khi cắt cành giữ ẩm tốt:
- Thời vụ ghép thích hợp vào tháng 10 -12 và tháng 7-8. 

- Thao tác ghép:
* Trên gốc ghép chừa lại 2 cặp lá, cắt ngọn ở vị trí cách cặp lá chừa lại 5 - 10 cm . 
* Trên cành ghép phía dưới gốc vạt hai đường có dạng hình nêm dài 4 cm.
* Chẻ gốc ghép ở chính giữa dọc theo thân có nhiều dài tương đương lát vát ở cành ghép.
* Đặt cành ghép vào làn chẻ ở gốc ghép có ít nhất một bên liền lớp da. 
*Dùng dây nilon mỏng quấn chặc từ vết ghép đến đỉnh chồi để cố định và bịt kín chồi ghép. 

- Chăm sóc cây ghép: 
*Xếp cây ghép thành luống, che nắng, giữ ẩm và thường xuyên cắt chồi mọc ra từ gốc ghép. 
*Cây nào sống đâm chồi thì bỏ mũ hoặc tháo dây quấn và chuyển ra ngoài ánh sáng để chăm sóc, chồi ghép ra lá, dày dạn với ánh nắng có thể di chuyển đi trồng. Sau 3 tháng vết ghép đã liền có thể tháo dây cột để cây phát triển bình thường. 

- Một số giống điều ghép: 
Hiện nay Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận và cho phát tán 1 số giống điều ghép : BO1, PN1, CH1, LG1.
Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam cũng đã hướng dẫn, khuyến cáo nông dân trong từng vùng trồng các giống điều ghép có năng suất, chất lượng cao phù hợp. Trong đó:
+ Vùng Đông Nam Bộ trồng các giống điều ghép PN1, LG1, CH1, MH 5/4, MH4/5, MH 2/7, MH 2/6… 
+ Vùng Duyên Hải Nam Trung bộ trồng hai giống ĐH 66-14 và ĐH 67-15. 
+ Vùng Tây Nguyên trồng phù hợp các giống: EF-04, EK-24, BĐ-01, KP-11, KP-12… 
Đồng thời các vùng cũng nhanh chóng đưa vào khảo nghiệm trên diện rộng bốn giống điều nhập nội từ Thái Lan là TL2/11, TL6/3, TL11/2 và SK 25 có hạt lớn (134 - 145 hạt/kg), tiềm năng năng suất 3 - 4 tấn/ha và tỷ lệ nhân cao (28 -30%)

* BO1: Lá màu tím đỏ, phiến lá bầu dục và xoắn trái màu đỏ, hạt màu xám, vỏ mỏng, rốn hạt màu tím, tỷ lệ nhân 29 – 31%, 163 hạt/kg, phát triển chồi mạnh, số hoa lưỡng tính 12 - 18%, 4 - 6 trái chùm, năng suất 2 tấn hạt/ha. 

* PN1 : lá non, màu tím đỏ, phiến lá bầu dục và phẳng, trái màu vàng, hạt màu xám trắng, má hạt lồi, rốn hạt màu tím nhạt; Tỷ lệ nhân 31-34%, số hạt 136 hạt/kg; phát triển chồi trung bình, số hoa lưỡng tính 15 - 20%, đạt 4- 6 trái/chùm, năng suất 2 tấn hạt/ha.

III. THIẾT LẬP VƯỜN ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ: 

1. Vườn trồng mới (Giai đoạn kiến thiết cơ bản): 

a. Ðất trồng điều: Cần chọn những vùng đất dễ thoát nước, tầng đất sâu, ẩm độ đủ trong mùa khô, sinh thái thích hợp với cây điều. 

b. Mật độ trồng: Nên bố trí hàng theo hướng Bắc – Nam, nếu đất dốc nên trồng theo đường đồng mức hoặc làm bậc thang để hạn chế xói mòn. Giai đoạn đầu nên trồng mật độ 200 cây/ha. Bố trí theo khoảng cách 8 x 6 m hoặc l0 x 5 m, tuỳ theo mục đích sử dụng đất khi cây chưa khép tán. Những năm sau khi nên tỉa thưa dần còn mật độ 100 cây/ha với khoảng cách 8 x 12 m hoặc 10 x 10 m.

c Hố trồng: Chuẩn bị hố trước khi trồng 15 - 30 ngày, hố đào 50 x 50 x 50 cm, phần đất mặt trộn 5- 10 kg phân chuồng hoại lấp xuống đáy hố, lấp hố cao hơn mặt đất 10 - 15 cm để tránh đọng nước. 

d. Trồng: Ðặt cây vào giữa hố, đất lấp cao hơn mặt bầu của cây 5 cm, cột cây cố định để giữ cây. Chú ý tránh làm vỡ bầu đất khi tháo bỏ túi nilon; bỏ những chồi mọc dưới vết ghép và chồi nách. Trồng dậm cây chết sau 7 ngày. 

e. Bón phân:
Liều lượng: 
Nên thực hiện 2 đợt: Vào đầu mùa mưa đợt 1 (tháng 5 - 6) và đợt 2 cuối mùa mưa (tháng 9 -10) bón theo hình chiếu của tán lá, trước khi bón cần làm sạch cỏ. Ðể đạt năng suất khoảng 2 tấn/ha, lượng phân bón có thể áp dụng:

RICKFJ021315

Bón phân phun qua lá: Dùng loại phân Poly – feed 19-19-19, liều lượng 10 g/8 lít, phun 1 tháng/1ần sau khi trồng.

f .Tỉa chồi tạo tán: 
Thường xuyên tỉa chồi nách từ mặt đất lên đến 60cm. Khi cây điều cao 0,8 – 1m thì bấm ngọn để 3 - 4 chồi cân đối trên cây. Khi cây phát tán rộng cần loại bỏ những chồi yếu, chồi gần thân chính. 

g. Làm cỏ, chống cháy: 

Cơ giới: Cày xới cách lán cây 1m vào giữa và cuối mùa mưa.

Hóa chất: Dùng thuốc trừ cỏ tiếp xúc gốc Paraquat như Pesle 267SL hoặc lưu dẫn gốc Glyphosate như Lyphoxim, Shoot, Helosat… Nếu có nhiều cỏ lá rộng, nên phối hợp thuốc trừ cỏ lưu dẫn với thuốc gốc 2,4D như Zico để diệt cỏ triệt để hơn. Tránh để thuốc dính vào phần non xanh của cây.

Trồng xen: Trong thời gian điều chưa khép tán, trồng xen các cây ngắn ngày, có chiều cao cây thấp và phải cách tán cây điều 1m nhằm kết hợp thu thêm sản phẩm nông nghiệp và làm cỏ chăm sóc cây điều.

2. Cải tạo và thâm canh vườn điều giai đoạn kinh doanh: 

a. Tỉa thưa: Cần dựa vào tiêu chuẩn chọn cây mẹ, tỉa bỏ những cây sản lượng hạt thấp, hạt không đạt chất lượng, cây sâu bệnh, duy trì mật độ cây phân tán đều trong vườn 100 - 120 cây/ha. 

b. Tỉa cành: Loại bỏ các cành bò sát đất, cành ở phía trong tán, cành khô, cành bị sâu bệnh. 
Thời gian tỉa cành: sau khi thu hoạch đến tháng 9 - 10 dương lịch. Tiến hành thường xuyên qua các năm, số cành tỉa không quá 15% số cành của cây. 
c Bón phân: 

* Bón phân gốc:

- Lượng phân bón: 

RICKFJ021315

- Thời gian bón : 
Đợt 1 : Giai đoạn sau thu hoạch tháng 5-6dl
Đợt 2 : bón vào tháng 9-10dl. 
- Cách bón : Bón theo vành ngoài của tán lá . 

*Phân phun qua lá : 
- Phun dưỡng cành : Phun 3-4 lần vào những đợt ra đọt non trong mùa mưa. Dùng Poly-feed 19-19-19, pha 20 ml/8 lít., phun ướt đều tán cây vào lúc trời mát.
- Phun tạo trái : 

RICKFJ021315

Cách phun: phun ướt đều toàn bộ tán lá vào lúc trời mát. 
Liều lượng: 10 - 15 g/8 lít, phun 300 - 600 lít/ha. 
Tùy tình trạng vườn có thể phun cách nhau 15 ngày/1ần. Tùy giai đoạn mà dùng loại phân (xem bảng) 

d. Làm cỏ: dọn sạch cỏ tạo sự thông thoáng vươn điều bằng cơ giới, bằng tay hoặc dùng thuốc diệt cỏ như đã hướng dẫn ở trên vào các giai đoạn bón phân. 

e. Phòng trừ sâu bệnh: Thường xuyên kiểm tra, phát hiện sâu bệnh gây hại để kịp phòng trừ. 

IV.SÂU BỆNH HẠI ĐIỀU: 

1 Sâu đục thân: Có 2 loại phá ở thân và loại đục cành. 

a. Sâu đục thân gốc: Trưởng thành là xén tóc màu nâu đỏ. Ðầu, ngực màu đậm hơn, dài khoảng 5 - 6 cm, con cái đẻ trứng vào các vết nứt trên thân gần gốc. Sâu non nở ra có màu trắng vàng nhạt đục vào bên trong thân cây theo nhiều đường ngoằn ngoèo và ăn vào tận trung tâm làm tắc nghẽn các mạch dẫn nhựa nuôi các cành bên trên nên dần dần cây bị suy và chết, lỗ đục do ấu trùng của sâu đục thân có nhiều phân và chất thải giống mạt cưa cùng nhựa cây tiết ra. Giai đoạn sâu non dài khoảng 7 - 8 tháng, lúc lớn nhất có thể dài 6 - 7 cm. Nhộng thường ở phần vỏ gần mặt đất trong các vỏ cứng màu trắng hình bầu dục dài. 

b. Sâu đục thân cành: Xén tóc màu đen, có lốm đốm bông ở mặt lưng, kích thước khoảng 3 - 3,5 cm, con cái đẻ trứng ở vỏ cây, thường ở các nơi phân cành. Sâu non nở ra đục vào cành làm tắc mạch dẫn nên dần dần bị khô, sâu thường tiết tơ kết dính phân và miếng vụn của cây tạo những dây dài. 

Phòng trừ: sâu đục thân và đục cành có vòng đời dài sống quanh năm. Do sâu đục bên trong thân, cành hoặc rễ cây nên rất khó trị, vì vậy cần thăm vườn thường xuyên để phát hiện sớm khi sâu mới đục ở phần vỏ, phòng trừ bằng các cách: 
- Bóc chỗ vỏ có dấu sâu đục hoặc vạt nơi sâu đục thân để bắt sâu non, nhộng và trứng, cưa bỏ và tiêu huỷ các cành bị đục.
- Sử dụng hóa chất: dùng bình bơm hoặc xi lanh bơm dung dịch thuốc trừ sâu như: Sago-super 20EC, Dragon 585EC, Diaphos 50ND. . . Hoặc đặt các miếng gòn có tẩm các loại thuốc trên vào nơi có sâu đục, bịt kín lỗ đục lại bằng đất sét.
- Quét vôi hoặc trộn Sago-super 3G hay Diaphos 10H với bùn loãng (gồm đất sét + phân trâu bò) theo tỉ lệ 1:4 quét lên thân cây từ 1m trở xuống vào đầu mùa khô (tháng 12 dl) để ngăn chận sự đẽ trứng và ấu trùng xâm nhập.

2. Côn trùng chích hút: Quan trọng nhất là bọ xít muỗi và bọ trĩ, ngoài ra còn có rầy mềm (Aphid). 

a. Bọ xít muỗi: Con trưởng thành và con non có dạng gần giống nhau. Bọ xít có màu nâu đỏ, ngực đen. Trưởng thành dài 6 - 8 mm. Xuất hiện quanh năm nhưng mậtsố tăng cao và gây hại nặng vào cuối mùa mưa đến sau thu hoạch, cao điểm vào tháng 12 – 1 dl
Con cái đẻ trứng vào chồi non. Thời gian sâu non ngắn khoảng 10 ngày, cả con non và con trưởng thành chích hút trên lá non, chồi non, cành hoa, trái và quả non. Nơi bị chích hút có tiết nhựa màu trắng trong, lá non bị chích khô trắng lại, khó rụng, có khi khô cả chùm hoa, trái non rụng nhiều. Vết chích bị nấm phụ snh tấn công nên có màu đen, rất dễ lầm với bệnh thán thư
Bọ xít muỗi thường xuất hiện nhiều vào sáng sớm và chiều mát, nó có thể sống trên nhiều loại cây như: ổi, xoài, tiêu. Nhưng cũng có nhiều thiên địch có thể diệt bọ xít.

b. Bọ trĩ (Thrip): Con trưởng thành rất nhỏ, dài khoảng 1mm, màu vàng nâu, cánh có lông tơ. Con cái có thể đẽ từ 30 – 50 trứng rất nhỏ ở mặt dưới lá dọc theo gân chính của lá non. Trứng nở sau 4 – 6 ngày. Bọ trĩ non màu vàng nhạt, rất khó thấy bằng mắt thường (chỉ dài 0,2mm), lột xác 2 – 3 lần kéo dài 12 – 18 ngày. Do vậy có rất nhiều thế hệ liên tiếp nhau gây hại nặng cho điều vào đầu mùa khô. Cao điểm vào tháng 12 – 2 dl lúc trời nắng nóng.
Cả bọ trĩ trưởng thành và con non đều gây hại bằng cách cứa rách lớp biểu bì ở các bộ phận non và liếm hút nhựa chảy ra, dẫn đến lá đọt kém phát triển và có màu trắng bạc, hoa và trái non bị khô và rụng, vỏ hạt bị hiện tượng da cám, vỏ trái giả bị chai sần, nứt chảy nước và thối.

c. Rầy mềm (Aphid): Con non có dạng tròn lớn hơn hạt mè, màu hồng có một lớp phấn trắng. Rầy bám thành từng mảng dày trên chồi lá, chồi hoa, hoặc chích hút nhựa ở trái non, sau đó chất thải của rầy bị nấm ký sinh làm đen trái non và rụng. 

* Phòng trừ: Côn trùng chích hút phá hoại nhiều vào giai đoạn điều ra đọt non và ra bông-kết trái. Vì vậy từ tháng 11 dl phải thường xuyên thăm vườn để phát hiện sâu, 
- Vệ sinh dọn dẹp cỏ dại, cắt tỉa cành thông thoáng sau thu hoạch và trong mùa mưa là biện pháp tích cực nhằm chủ động hạn chế mật độ nhóm côn trùng chích hút khi điều ra bông-kết trái.
- Sâu nhiều có thể diệt bằng các loại thuốc như: Secsaigon 10EC, Sapen Alpha 5EC, Fenbis 25EC, Sago-super 20EC…
Chú ý nên xịt lúc sáng sớm và chiều mát và không nên dùng các loại thuốc nhủ dầu với nồng độ cao có thể làm hại bông. 

3. Sâu hại lá: Có 3 loại: 

a. Sâu đục lòn lá: sâu rất nhỏ đục vào biểu bì lá non, tạo thành những vết phồng màu trắng. 

b. Sâu róm đỏ: lúc nhỏ sống thành từng đàn trên một vài lá. Khi lớn phát tán ra. Nhiều lúc ăn trụi lá cả cây. Sâu hóa nhộng trong những kén tơ vàng ánh. Sâu có thể gây dịch lớn. Sâu xuất hiện vào đầu mùa khô. 

c. Sâu kết lá: sâu non màu nâu đen, sâu nhả tơ kết lá thành tổ. Sâu xuất hiện nhiều vào đầu mùa khô. 

d. Sâu kèn: Có nhiều loại. Sâu thường nhả tơ kết dính thành tổ có dạng khác nhau tùy loại sâu sống bên trong, di chuyển cả tổ đi ăn phá lá. Sâu xuất hiện nhiều vào giữa mùa mưa (tháng 7,8) và đầu mùa khô. Sâu có thể gây dịch. 

e. Câu cấu: Là những con cánh cứng, có nhiều loại với kích thước 5 - 6 mm đến 15 - 18 mm, có thể có màu xanh lá mạ ánh vàng, màu nâu đen. Sâu thường buông mình rơi xuống khi bị động. Sâu có thể phá hoại nhiều cây khác nhau như tràm bông vàng, ổi, xoài…

f. Nhện đỏ, rệp sáp, bọ hung, sâu đo, mối... đôi lúc cũng gây hại cục bộ .

Phòng trừ: 
Có thể dùng những loại thuốc đã nêu trên như: Secsaigon 10EC, Sapen Alpha 5EC, Fenbis 25EC, Sago-super 20EC… để phòng trị: 

Nhưng cần chú ý về thời điểm phòng trừ

RICKFJ021315

4. Bọ vòi voi đục chồi (đục nõn): 
Có kích thước nhỏ 7-8 mm, màu đen, phần miệng kéo dài như vòi voi. Trưởng thành đẻ trứng vào các chồi non, sâu chích hút chồi làm cây không phát triển được, sâu phá nhiều vào giai đoạn ra đọt non. 
Nên cắt bỏ, gom đốt các chồi hư. Khi mật độ nhiều có thể dùng các loại thuốc như Secsaigon 25EC, Sapen Alpha 5EC, Fenbis 25EC, Sago-super 20EC… để trị. 

5.Bệnh hại điều : 
Có thể gặp các bệnh quan trọng như bệnh thán thư (khô đen bông, đen rụng trái non), bệnh nấm hồng (chết khô cành) và một số bệnh ít quan trọng như nấm bồ hóng, rong bám lá, thối cổ rễ cây con, đốm lá,

a. Bệnh thán thư:
Do nấm Collectotrichum gloeosporioides gây ra. Là bệnh rất phổ biến ở các vùng trồng điều và thường gây hại nặng trên cây điều trong điều kiện ẩm độ cao và mưa nhiều hay lúc cây điều đang trổ hoa gặp sương mù dày đặc kèm theo nhiệt độ thấp từ 24-32 0C 
- Triệu chứng: Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ có màu nâu đỏ, sau đó xảy ra hiện tượng tiết gom (chảy nhựa). Vết bệnh trên chồi non phát triển theo chiều dọc và lan dần vòng tròn hết cả chồi. Lá non bị bệnh trở nên khô đen, vỡ nát. Hoa bị khô đen, cụp xuống và rụng. Hạt bị bệnh thường bị thối đen, nhăn lại. 
- Phòng trị: Sau khi thu hoạch phải tiến hành tỉa bỏ những cành vô hiệu, cành sâu bệnh giúp cây thông thoáng, ánh sáng chiếu xuyên vào tán cây. Phun phòng trị bằng các loại thuốc: 
+ Dipomate 80WP: 25 – 30 gam/8 lít nước
+ Carbenzim 500 FL: 15 – 20ml/8 lít nước
+ Thio-M 500 SC: 15 – 20 ml/8 lít nước 
Có thể hỗn hợp với thuốc trừ sâu để phun ngừa luôn bọt xít muỗi và bọ trĩ. Nên phun vào các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1: khi vừa ra lá non (phun từ 1-2 lần) 
+ Giai đoạn 2: Khi vừa nhú hoa 
+ Giai đoạn 3: Khi vừa đậu trái đến khi trái to bằng hạt đậu phộng.
Cần chú ý theo dõi thường xuyên, kiểm tra chính xác tác nhân gây hại trên hoa điều, để phân biệt là: Bọ xít muỗi, bọ trĩ hay bệnh thán thư để sử dụng đúng thuốc, đúng thời điểm gây hại, cũng như đúng liều lượng và cách phun thuốc phù hợp. 

b. Bệnh nấm hồng: 
Tác nhân gây bệnh giống như bệnh nấm hồng cây cao su. Bệnh xuất hiện vào giữa mùa mưa (tháng 6 - 9), cây nhiễu bệnh từ đọt cành xuống, có các đốm trắng trên vỏ cành, sau chuyển thành hồng gây chết khô cành.

Phòng trị:
- Cắt, gom đốt bỏ cành bệnh.
- Dùng Bordeaux bôi vết cắt, phun hay Vanicide 5L với nồng độ 15 ml/8 lít.
- Nơi thường bị bệnh, ngừa bằng thuốc trừ bênh Vanicide 5SL hoặc Saizole 5SC vào tháng 5 – 7 dl.

Tóm lại, dể vườn điều đạt được năng suất cao và ổn định. Bà con cần chủ động tiến hành những kỹ thuật canh tác quan trọng sau đây:


  • Nên chọn giống điều ghép cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu ở địa phương (tìm hiểu thông qua cán bộ khuyến nông hoặc người trồng điều cho năng suất cao tại địa phương). 
  • Giai đoạn khai thác giữ mật độ cây dày vừa phải từ 100 – 120 cây/ha tuỳ theo đất tốt xấu 
  • Bón phân đầy đủ và cân đối theo tuổi cây. 
  • Sau thu hoạch, chú ý vệ sinh vườn sạch sẽ, cắt tỉa cành thông thoáng để hạn chế sâu bệnh hại. 
  • Thường xuyên kiểm tra vườn điều để phát hiện sớm sâu bệnh và có biện pháp phòng trị thích hợp. 
  • Giai đoạn bắt đầu ra lá non và ra hoa kết trái bà con nên chủ động phun phối hợp giữa các loại thuốc BVTV với phân bón lá để vừa phòng trừ các loại sâu bệnh chính đã nêu, vừa tăng cường dinh dưỡng để nuôi bông trái và đồng thời tăng cường sức đề kháng sâu bênh cho cây điều. Liều lượng các loại thuốc BVTV và phân bón lá có thể phối hợp được trình bày theo bảng sau: 

RICKFJ021315
(Click hình để phóng to)


Ghi chú: 

- Áp dụng cho phuy 200 lít nước 
- Khi phòng trừ bọ xít muỗi nên phun vào lúc 6 giờ sáng hoặc sau 4 giờ chiều


Giới Thiệu Về Ngành Điều Việt Nam
 

Là quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, thổ nhưỡng và khí hậu của Việt Nam rất phù hợp cho sự phát triển của cây điều.

Video giới thiệu VINACAS [click here]

Thấy được giá trị kinh tế của cây điều, ngay từ những năm 1980, Đảng và Nhà nước đã bước đầu có sự quan tâm đến cây điều, đặc biệt là công nghệ chế biến điều xuất khẩu – tại Hội nghị ngoại thương tổ chức tại tỉnh Sông Bé (cũ) vào năm 1982, cố Thủ tướng Phạm Hùng đã chỉ đạo cho ngành ngoại thương phải tổ chức chế biến và xuất khẩu hạt điều. Tuy nhiên thời kỳ này Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu hạt điều thô, giá trị kinh tế thấp, thường xuyên bị ép giá ở nước ngoài.

Phải đến năm 1990 ngành điều Việt Nam mới thực sự khởi sắc. Ngày 29/11/1990 Bộ trưởng Bộ NN và CN Thực phẩm (nay là Bộ NN và PT Nông thôn) đã có Quyết định số 346 /NN-TCCB/QĐ v/v: thành lập Hiệp hội cây điều Việt Nam với tên giao dịch bằng tiếng Anh: Vietnam Cashew Association (VINACAS).

Năm 1992, tức là chỉ một năm sau khi khai thông biên giới Việt - Trung, hạt điều Việt Nam đã có mặt tại thị trường đông dân nhất hành tinh này. Ngày nay, Trung Quốc luôn là thị trường lớn thứ 2 của hạt điều Việt Nam.

Đặc biệt hơn là ngay từ khi Việt Nam – Hoa Kỳ chưa bình thường hoá quan hệ về mặt ngoại giao thì chúng ta đã có những lô hàng xuất khẩu nhân điều xuất khẩu trực tiếp qua thị trường Hoa Kỳ - đó là năm 1994.

Trong suốt 10 năm liền từ 1990 – 1999, cây điều Việt Nam từ chỗ chỉ có vài chục ngàn ha với sản lượng mấy chục ngàn tấn, xuất khẩu nhỏ lẻ, thì năm 1999 Việt Nam đã có sản lượng 100 ngàn tấn điều thô, sản lượng nhân xuất khẩu đạt 28 ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 164 triệu USD. Công nghiệp chế biến điều phát triển mạnh mẽ, sản lượng điều thô trong nước bắt đầu không đủ cung cấp cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.

Do vậy mà năm 1996, Việt Nam chính thức ghi tên mình vào danh sách các quốc gia nhập khẩu hạt điều thô từ châu Phi.

Để động viên một ngành công nghiệp non trẻ đang phát triển với tốc độ “nóng”, Nhà nước cần có định hướng phát triển. Hiệp hội điều Việt Nam - Bộ NN và PT Nông thôn đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án chiến lược phát triển ngành điều giai đoạn 10 năm từ 2000 – 2010. Ngày 07/5/1999, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 120 /1999/QĐ–TTg v/v: phê duyệt đề án phát triển ngành điều đến năm 2010.

Điều kỳ diệu là không phải đợi đến 10 năm mà chỉ 5 năm sau, tức là năm 2005 hầu như toàn bộ chỉ tiêu phát triển của Quyết định 120 của chính phủ đã được ngành điều hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.

Để ghi nhận thành quả đó thì ngày 14 tháng 1 năm 2003, Chủ tịch nước đã tặng ngành điều Huân chương Lao động Hạng 3 thời kỳ đổi mới.

Ngày 24/08/2007, Bộ NN và PT Nông thôn, thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định 39 /2007/QĐ-BNN về Quy hoạch phát triển ngành điều đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020; theo đó Bộ đặt ra các mục tiêu chủ yếu sau:

- Phấn đấu đến năm 2010 đạt:
+ Diện tích 450.000 ha
+ Diện tích cho thu hoạch: 360.000 ha
+ Năng suất bình quân 1,4 tấn/ha
+ Sản lượng điều thô 500.000 tấn

+ Sản lượng nhân điều xuất khẩu: 140.000 tấn

+ Kim ngạch xuất khẩu: 670 triệu USD
- Định hướng đến năm 2020

+ Diện tích trồng điều ổn định khoảng 400.000 ha

+ Kim ngạch xuầt khẩu: 820 triệu USD

Những năm gần đây mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, ngành điều Việt Nam vẫn kiên trì thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Diện tích cây điều được giữ vững, nhiều vùng, nhiều hộ nông dân trồng điều không những xoá được đói, giảm được nghèo mà còn khá hơn từ trồng điều. Công nghiệp chế biến dần hoàn thiện, ngày càng đi vào công nghiệp hoá, thân thiện với môi trường hơn, chất lượng sản phẩm được nâng cao, vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo.

Năm 2006, một tin vui lớn đã đến với những người trồng - chế biến - xuất khẩu điều Việt Nam - Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu hạt điều hàng đầu thế giới.

Năm 2007 ngành điều vẫn tiếp tục phát triển với nhịp độ tăng trưởng rất cao 25% - cao hơn mức tăng trưởng bình quân của ngành Nông nghiệp với thành tích cụ thể:

- Sản lượng điều thô trong nước: 350 000 tấn

- Nhập khẩu: 200 000 tấn
- Sản lượng chế biến: 550.000 tấn

- Sản lượng nhân xuất khẩu (khoảng) 152.000 tấn

- Kim ngạch xuất khẩu (khoảng) 650 triệu USD

Trong đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt trên 36%; Trung Quốc 18%; Liên Minh châu Âu (EU) trên 20%...

Có được thành tựu ngành hôm nay, ngành điều không thể không ghi nhận công sức đóng góp của những người nông dân trồng điều đã một nắng hai sương trồng, chăm sóc, tạo tán, tỉa cành cho cây điều phát triển.

Ngành điều cũng không thể không ghi nhận công sức, đóng góp của các nhà khoa học, những kỹ sư nông học đang ngày đêm tạo ra từng dòng giống mới cho năng suất chất lượng hạt ngày càng cao.

Thành công đó cũng có công sức đóng góp không nhỏ của những người công nhân chế biến điều; mặc dù cuộc sống còn muôn vàn khó khăn nhưng họ vẫn luôn bám máy, lao động sáng tạo giúp cho ngành điều ngày càng phát triển.

Đó còn là công sức lao động trí tuệ của tầng lớp doanh nhân Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu hạt điều. Họ đã góp công không nhỏ đưa những hạt điều nhỏ bé xinh xinh của Việt Nam xuất khẩu đến 26 quốc gia và vùng lãnh thổ khắp thế giới.

*** Mùa vụ Điều Việt Nam
Ngày phát hành: 31/12/2007

Ban chấp hành Hiệp hội Điều Việt Nam

Tổng quan về ngành Điều thế giới
 
Phân bố địa lý

Cây điều sinh trưởng và phát triển tốt ở những quốc gia thuộc khu vực cận xích đạo – nơi có nhiệt độ và độ ẩm cao. Hiện có 32 quốc gia trồng điều trên thế giới. Ấn Độ là nước có diện tích cây điều lớn nhất thế giới và dẫn đầu thế giới về sản lượng điều thô và nhân điều chế biến. Được biết tổng sản lượng điều thô toàn thế giới tại thời điểm từ 1,575 - 1,600 ngàn tấn, bao gồm Ấn Độ 400 - 500 ngàn tấn, chiếm 25 đến 30% tổng sản lượng. Tiếp theo là Brazin, Việt Nam, các nước châu Phi như Bờ Biển Ngà, Tanzania, Guinea Bissau, Benin, Nigeria, Mozambique, Senegal và Kenya – những quốc gia sản xuất điều nổi tiếng; mỗi năm các nước Châu Phi cũng đóng góp khoảng 500 ngàn tấn điều thô vào tổng sản lượng điều thế giới.

 
 

Ở Ấn Độ cây điều được trồng rộng rãi ở các bang Maharashra, Andhra Pradesh, Orissa, Kerala,Tamil Nadu, Karnataka, Goa và West Bengal. Ngoài những bang trồng điều truyền thống này, cây điều hiện còn được trồng ở các bang khác của Ấn Độ như Gujarat và Assam - nơi mà diện tích cây điều có sự đột phá thời gian gần đây.

Chế biến

 Chế biến là một trong những khâu quan trọng của chuỗi giá trị hạt điều. Mỗi quốc gia đều có những cách chế biến và công đoạn chế biến điều riêng. Trong khi ở Braxin cơ giới hóa chế biến điều thì Ấn Độ vẫn phụ thuộc nhiều vào lao động thủ công, thậm chí ở Ấn Độ, mỗi vùng khác nhau có phương pháp chế biến khác nhau. Ví dụ: ở khu vực Mangalore của bang Karnataka sử dụng phương pháp hấp và những khu vực Orissa và Andhra Pradesh thì sử dụng phương pháp chiên.

 Sau khi chế biến, nhân điều được tách khỏi vỏ và được phân loại theo kích cỡ, hình dáng, màu sắc như nhân nguyên (wholes), nhân vỡ dọc (split), nhân bể (brokens), nhân vụn (butts), nhân vụn sém (scorched butts)... Nhân nguyên sau đó được phân loại tiếp thành những loại W320, loại W180, loại W450… căn cứ số lượng hạt trên mỗi pound (tương đương 0,45 kg). Nhân điều được phân thành 23 đến 26 loại (grades). Nhân nguyên được bán như thực phẩm ăn nhanh (snack) trong khi nhân vỡ dọc thường được dùng làm nguyên liệu chế biến các thực phẩm khác.

 Những nước chế biến điều lớn nhất thế giới:

 Trong số những nước sản xuất điều, Ấn Độ, Braxin và Việt Nam tiếp tục là những nước chế biến điều lớn nhất thế giới. Những nước châu Phi chế biến rất ít và hơn 90% lượng điều thô của châu Phi được xuất khẩu sang Ấn Độ. Ngày nay các quốc gia châu Phi đang có nhiều nỗ lực nhằm gia tăng năng lực chế biến của mình. Trong số các nước kể trên, Ấn Độ là nước đứng đầu về sản lượng chế biến với khoảng 950 ngàn tấn điều mỗi năm mặc dù quốc gia này chỉ có khả năng tự thỏa mãn khoảng một nửa nhu cầu nguyên liệu. Với năng lực chế biến lớn, Ấn Độ phải nhập khẩu điều thô từ các nước châu Phi và trước kia từ Việt Nam. Việt Nam chế biến được 400 ngàn tấn điều thô mỗi năm trong khi đó Braxin chỉ chế biến được khoảng 250 ngàn tấn.

 Cung - cầu:

 Trong khi các nước Ấn Độ, Braxin, Việt Nam cùng nhau sản xuất khoảng 70% tổng sản lượng điều thế giới, thì chỉ riêng Bắc Mỹ đã tiêu thụ khoảng 50% tổng số lượng nhân điều thế giới, tiếp theo là Liên minh châu Âu (EU) chiếm 29%, còn lại là các nước châu Á, chủ yếu là Ấn Độ và Trung Quốc chiếm 21%.

 Mua bán điều

 Trong chuỗi giá trị điều gồm có nhiều nhân tố tham gia gồm nhà sản xuất và kinh doanh điều thô, nhà chế biến điều, nhà trung gian bán nhân điều và nhà bán lẻ hoặc người mua cung cấp hàng cho người tiêu dùng.

 Về xuất khẩu:

Việt Nam là nước đứng đầu về xuất khẩu nhân điều tiếp theo là Ấn Độ và Braxin. Ấn Độ xuất khẩu được khoảng 100 - 125 ngàn tấn nhân điều mỗi năm. Hoa Kỳ, Hà Lan, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), Anh và Nhật Bản là những khách hàng chính của Ấn Độ.

 Về nhập khẩu:

 Những nước nhập khẩu nhân điều lớn trên thế giới là Hoa Kỳ, Liên Minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), Nhật Bản và Ả Rập Xê út.

 Việc mua bán điều ở Ấn Độ:

 Việc mua bán điều ở Ấn Độ phần lớn tập trung ở những vùng như: Kollam, Mangalore, Jeypore (Orissa), Vetapalam (Andhra Pradesh), Mumbai, Phalasa, Quilon.

Ở Ấn Độ, việc mua bán điều bắt đầu từ hai Sở Giao dịch Hàng Hóa Quốc Gia là MCX và NCDEX tương ứng năm 2003 và 2005. Tuy nhiên, cho đến bây giờ những giao dịch thực sự không còn được tiến hành ở hai trung tâm này.

 Mùa vụ điều

 Ấn Độ và Việt Nam, mùa thu hoạch điều kéo dài từ tháng 3 đến tháng 6. Ở Braxin, mùa vụ kéo dài từ tháng 11 năm nay đến tháng 2 năm sau.

 Giá điều thô ở Ấn Độ từ 35 - 45 Rs/ kg. Điều thô từ các nước Châu Phi giá khoảng 0,35 - 0,5 USD/ kg. Giá nhân điều nhìn chung dao động khoảng 1,3 - 3 USD/ Lb. Giá điều thô chịu ảnh hưởng bởi tình hình mùa vụ ở những khu vực cung cấp lớn của thế giới bao gồm các nước châu Phi và các yếu tố khác như tỷ giá ngoại tệ, thuế xuất khẩu cho điều nguyên liệu… Giá nhân chịu ảnh hưởng lớn bởi giá điều nguyên liệu và nhu cầu tiêu dùng.

 
(Nguồn: CashewInfo.Com)

 World Cashew Industry - General Information






Trồng, chăm sóc cây điều ghép
 

Trong điều kiện chăm sóc tốt có thể thu hoạch từ 30-50 chồi/ cây năm thứ nhất ... Chăm sóc cây ghép:- Sau khi ghép 10-15 ngày, ta tiến hành kiểm tra mắt ghép.

TRỒNG MỚI
1. MỞ ĐẦU

+ Diện tích năm 2005: 350 ngàn ha
+ Tổng sản lượng: 330 ngàn tán
+ Năng suất: 1,1 tánlha.
+ Sản lượng nhân: 100 ngàn  tấn
+ Kim ngạch xít: 489 triệu USD
 
MỤC TIÊU
 
+ Biết được các điều kiện sinh thái cần thiết phù hợp với cây điều a Nắm được kỹ thuật trồng và chăm sóc cây điều ghép giống cao sản.
+ Nắm được kỹ thuật sản xuất cây giống điều ghép
2. NỘI DUNG

CÁC ĐIỀU KIỆN SINH THÁI
ĐẤT ĐAI
+ Có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau
Thích hợp nhất:
+ Đất tốt giàu mùm PH: 6,3-7,3 thoát nước tốt
Không thích hợp:
+ Đất bị ngập úng
+ Đất nhiễm mặn
+ Đất có tầng đất mặt mỏng
KHÍ HẬU, THỜI TIẾT
Thích hợp :
+ Có mùa mưa và mùa khô phân biệt.
Mùa khô dài từ 4 - 6 tháng.
+ Không có mưa trong thời gian cây điều ra hoa
+ Nhiệt độ bình quân khoảng 27 oC
không thích hợp :
+ Có độ cao trên 600 m so với mặt biển.
+ Có mưa hay sương mù trong thời gian cây điều ra hoa
+ Nhiệt độ: <15 oC và >35 oC
TRỒNG CÂY
Lập vườn
 
+ Đất bằng phẳng, ít dốc thấp hàng Điều nên được trồng theo hướng Bắc Nam
+ Đất dốc thì hàng Điều thiếu kế thoe đường đồng mức
+ Vùng có gió mạnh nên có hàng cây chắn gió
 
Chuẩn bị hố trồng
+ Phóng cọc
+ Đào hố có kích thước: 60 x 60 x 60 cm
+ Bón lót và lấp hố:

Phân lót. 1O-2O kg phân chuồng hoai + O.5 - lo kg Super lân Hố trồng càn phải được chuẩn bị xong một tháng trước khi trồng.

TRỒNG
 Khi trồng dùng dao hay liềm sắc cắt đáy bầu và rễ đuôi chuột bị cuộn xoắn. Dào một hố nhỏ ớ chính giữa hố rồi đặt bầu cây con xuống hố sao cho mặt bầu thấp hơn mặt đất nền chừng 5 - 10 cái để tránh cây bị xói trốc gốc khi mưa lớn. Sau đó dùng dao rạch theo chiều dọc của bầu và kẻo bao ni lon lên. Nén chặt đất xung quanh bầu đất. Trồng dặm ngay khi thấy cây bị chết. Nên rải thêm 10 - 20 g Furadan/hố trồng để hạn chế kiến, mối phá hoại cây con.
 
LÀM CỎ VÀ TRỒNG XEN
 
Làm cỏ
+ Hai năm đầu: làm sạch cỏ xung quanh gốc cách mép tán 1m: 4 -5 đợt cỏ mỗi năm.
+Năm 3 trở đi: 3 đợt mỗi năm. Hai đợt đầu kết hợp với các đợt bón phân, đợt thứ 3 dọn vườn chống cháy và chuẩn bị cho vụ thu hoạch.
 
 TRỒNG XEN
 
 
. Mục (ích: Hạn chế cỏ dại/ chống xói mòn và gia tăng thu nhập.
. Nhược điểm: Cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng, lây lan sâu bệnh
. Khắc phục:
. Cây trồng xen cần trồng thành băng cách mép tán điều khoảng 1 m.
. Các cây trồng xen được khuyến cáo theo thứ tự ưu tiên là đậu phộng, đậu xanh, đậu đen, bông vải và một số cây ngắn ngày có tán thấp khác
TẠO TÁN VÀ TỈA CÀNH
Tạo tán
Việc tạo tán được bắt đau thực hiện tử năm thứ hai. Nên để cây điều chỉ có một thân chính, để lại các cành cấp 1 cách mặt đất khoảng 50 - 70 cm và phân bố đều để tạo tán hình mâm xôi.
 
QUY TÁC BÀN TAY
+ Góc phân cành rộng
+ Mọc rời nhau và phân bố đều 4 hướng
+ Cành to khỏe
TỈA CÀNH

+ Tỉa bỏ những cành nằm phía trong tán, bị che bóng, các cành bị sâu bệnh và cành vượt.
+ Thời kỳ khai thác: tỉa cành hai lần mỗi năm kết hợp với việc dọn vườn làm cỏ để chuẩn bị bón phân cho cây.
+ Lán đầu ngay sau khi thu hoạch xong thường vào tháng 4 - 5.
+ Lần thứ hai vào tháng 8 - 9.
BÓN PHÂN

Vì sao phải bón phân ? Bón bao nhiêu thì đủ ?

PHÂN THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN

 + Hai năm đầu: bón phân nhiều đợt (3-5 đợt/năm) với liều lượng ít vào lúc cây đã hoàn thành đợt lá trước và chuẩn bị phát đợt lá tiếp theo.

+ Trong 6 tháng đầu cây mới trồng cần bón lượng phân rất ít (10g/cây/đợt) và cách xa gốc tử 25 - 30 cm để tránh hiện tượng cây bị chết do xót rễ, đặc biệt cây trồng trên đất có thành phần cơ giới nhẹ cần chia làm nhiều lần bón.

BÓN PHÂN THỜI KỲ KHAI THÁC
 
+ Lượng phân bón cho điều thường được chia ra làm 2 đợt
+ Vườn điều chưa khép tán : đào rãnh sâu 10 –15 cm quanh mép tán sau đó rải đều phân và lấp lại
+ Vườn cây đã khép tán : đào rãnh giữa hai hàng cây theo ô bàn cờ cách gốc 2-3 m để bón phân
+ Ngoài phân vô cơ, bón thêm phần chuồng khoảng 10 –20 kg/cây/năm
  
TƯỚI NƯỚC

CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯÔNG VÀ PHÂN BÓN LÁ

 - Mục đích : Tăng cường sự ra hoa đậu quả để nâng cao năng suất và chất lượng.
   Hạt điều.
- Chú ý: về chủng loại, liều lượng, thời gian, số lần áp dụng, ngày thuốc hết hạn và tuân thủ chặt chẽ theo hướng dẫn của các nhà sản xuất.
* Con dao hai lưỡi.
Phun dưới liều. tốn công và không hiệu quả
Phun quá liều. tôn thuốc và hạ cây'rụng bông trái

Các khuyến cáo sử dụng chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá cho cây điều

SỰ RA HOA VA ĐẬU TRÁI
+ Cần 2 tháng khô hạn để phân hoá mâm hoa . Thời gian ra hoa tháng 12 - tháng 3
+ Mỗi chùm hoa có cả hoa đực và hoa lưỡng tính . Hoa trên 1 chùm nở theo 3 pha.
+ 2 tuần đầu: hoa đực nở
+ 3 tuần tiếp theo: hoa đực và hoa lưỡng tính
+ 2 tuần cuối : hoa đực
+ Hoa thụ phấn nhờ côn trùng
+ Quả rụng nhiều nhất ỏ giai đoạn có kích thước 1 cm
Theo thalexim.com






Show as multiple pages

 
    
 

 

"Thực hành Nông nghiệp tốt" theo tiêu chuẩn GlobalGAP hay VietGAP là giải pháp nền tảng để nhà sản xuất nông nghiệp xây dựng thương hiệu, tìm kiếm thị trường và giá bán tốt hơn cho sản phẩm của mình. Mục tiêu cuối cùng của GlobalGAP là phát triển nông nghiệp một cách bền vững.